Giữa thời buổi công nghiệp hóa, vẫn có những con người lặng lẽ gìn giữ nghề truyền thống, biến những sản phẩm dân dã thành nguồn thu nhập ổn định. Câu chuyện của bà Nguyễn Thị Huyền (55 tuổi, thôn Hòa Chiều, xã An Nông, Thanh Hóa) là minh chứng sống động cho điều đó. Nhờ kiên trì học nghề, sáng tạo công thức riêng, vợ chồng bà hiện kiếm được trung bình nửa triệu đồng mỗi ngày từ nghề làm bánh đa.
Công việc của gia đình bà Huyền bắt đầu từ 4h sáng và chỉ kết thúc khi trời đã tối. Với ba lao động phụ cùng tham gia, mỗi ngày xưởng nhỏ của bà sản xuất và đóng gói gần 1.000 chiếc bánh đa. Đằng sau con số tưởng chừng giản đơn ấy là cả hành trình dài của nỗ lực, của những lần thất bại và cả sự đam mê với “thứ quà quê” tưởng chừng chỉ còn trong ký ức.
“Mỗi ngày tôi bán được khoảng 500 chiếc bánh đa, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 500.000 đồng. Nghề này tuy vất vả nhưng bù lại ổn định, có thể sống được bằng công sức thật thà”, bà Huyền chia sẻ.

Khởi đầu từ những lần lỗ vốn vì bánh vỡ
Trước khi bén duyên với nghề làm bánh đa, bà Huyền từng làm nông và mở cửa hàng tạp hóa nhỏ tại nhà. Bà nhập bánh đa từ các làng nghề nổi tiếng trong vùng về bán, nhưng do bánh dễ vỡ, việc kinh doanh nhiều lần thất bại. Mỗi chiếc bánh chỉ lời vài trăm đồng, nhưng khi vỡ thì coi như mất trắng.
“Có khi cả chục gói bánh bị vỡ, tôi phải chia cho người thân ăn cho đỡ tiếc. Lúc đó tôi chỉ nghĩ nếu tự làm được thì vừa chủ động nguồn hàng, vừa giảm rủi ro hư hỏng”, bà nhớ lại.
Từ ý nghĩ ấy, bà Huyền bắt đầu tìm hiểu và học nghề. Những ngày đầu, bà liên tục thất bại — bánh quá dày, bị cháy hoặc nứt vỡ. Không ít lần muốn bỏ cuộc, nhưng nghĩ đến món nợ vay mượn để mở quán, bà lại cố gắng mày mò làm lại.
Những tháng ngày kiên trì ấy đã giúp bà tích lũy kinh nghiệm quý báu, dần hình thành công thức “bí truyền” cho riêng mình.

Bí quyết làm nên hương vị khác biệt
Theo bà Huyền, khâu chọn gạo là yếu tố quyết định thành công. Bà sử dụng gạo Q5 hoặc gạo siêu đa hệ, trộn cùng gạo lật rang theo tỷ lệ 70% gạo trắng và 30% gạo lật. Chính sự kết hợp này giúp bánh giòn, ngậy và có hương thơm đặc trưng mà ít nơi nào có được.
Bột bánh phải được xay thật nhuyễn, luôn giữ ở dạng bột nước để đảm bảo độ dẻo và độ tươi. Bà thường “xay đến đâu, tráng đến đó”, không để bột qua đêm. Sau khi tráng, bà chọn vừng vàng thay vì vừng đen để tạo màu đẹp mắt, đồng thời giữ vị béo bùi hấp dẫn.

Nghề làm bánh đa – công việc vất vả nhưng đầy đam mê
Nhiều người nghĩ làm bánh đa là nghề đơn giản, nhưng thực tế mỗi công đoạn đều đòi hỏi tỉ mỉ và sức lực. Đặc biệt là khâu phơi và quạt bánh – yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. “Bánh muốn giòn phải phơi nắng đều, sau đó quạt bằng than hoa cho vàng ruộm, thơm lừng. Nếu trời âm u, bánh không khô, coi như công sức cả ngày đổ sông”, bà Huyền kể.
Hiện mỗi ngày, gia đình bà sử dụng khoảng một tạ gạo, cho ra gần 1.000 chiếc bánh thành phẩm. Để kịp tiến độ, bà thuê thêm ba lao động địa phương, trả công 1.000 đồng cho mỗi chiếc bánh được quạt và đóng gói. Mỗi người có thể kiếm được 200.000 đồng mỗi ngày, góp phần cải thiện thu nhập cho nhiều hộ dân quanh vùng.
Những mẻ bánh sau khi quạt xong được đóng túi cẩn thận, vận chuyển đến các đại lý và chợ trong huyện. Nhờ hương vị đặc trưng và độ giòn khác biệt, sản phẩm của bà Huyền nhanh chóng được người tiêu dùng tin tưởng.
Từ sản phẩm dân dã đến thương hiệu OCOP 3 sao
Ông Vũ Tiến Hòa – chuyên viên Phòng Kinh tế xã An Nông – cho biết: “Bánh đa của bà Huyền không chỉ là món quà quê, mà còn là sản phẩm tiêu biểu trong chương trình OCOP của địa phương. Chính nhờ sự sáng tạo và chất lượng ổn định mà sản phẩm này đạt chứng nhận OCOP 3 sao năm 2024.”
Hiện tại, chính quyền xã đang khuyến khích gia đình mở rộng quy mô, hướng tới xây dựng thương hiệu bánh đa An Nông vươn xa hơn, trở thành niềm tự hào của quê hương Thanh Hóa.
.jpg)



.jpg)
.jpg)
.jpg)







.jpg)